1. Về kiến thức

1.1. Kiến thức chung của ĐHQGHN: người học nắm vững thế giới quan, nhân sinh quan, các hệ thống vấn đề cơ bản và những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin; có thể sử dụng thành thạo một ngoại ngữ (một trong năm thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Trung, Đức) trong thực tiễn đời sống và áp dụng vào phục vụ lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp của mình.

1.2. Kiến thức nhóm chuyên ngành: người học phát triển năng lực và kĩ năng sử dụng ngoại ngữ thông qua hoạt động chuyên môn (Ngoại ngữ học thuật); nâng cao kiến thức cơ sở và liên ngành như nắm vững các kiến thức lí luận chung về nghiên cứu văn học, về một số phương pháp nghiên cứu văn học cơ bản cũng như những vấn đề chung về văn học Trung đại, Văn học Hiện đại và Văn học dân gian Việt Nam.

1.3. Kiến thức chuyên ngành: người học nắm vững các kiến thức chuyên sâu về một số hiện tượng văn học có tính đặc thù trong quá khứ cũng như trong hiện tại ở các nền văn học phương Đông, phương Tây tiêu biểu; nắm vững những kiến thức cơ bản và nâng cao về triết học văn hoá, xã hội, lịch sử văn học cũng như lịch sử phê bình văn học, lí thuyết nghiên cứu văn học …có liên quan đến các nền văn học nước ngoài.

1.4. Yêu cầu đối với luận văn

– Thể hiện được hiểu biết sâu sắc về vấn đề thuộc lĩnh vực văn học nước ngoài mà học viên đã lựa chọn để nghiên cứu và vận dụng những phương pháp nghiên cứu văn học phù hợp trong giải quyết vấn đề đó, hiện thực hoá thành một luận văn có tính mới, không trùng lặp với những nghiên cứu khác đồng thời chưa từng được công bố;

– Kết quả luận văn có giá trị thực tiễn (cung cấp một số tư liệu mới, cách nhìn mới…) hoặc lí thuyết (đóng góp vào việc hoàn thiện, phát triển hay ứng dụng các lí thuyết nghiên cứu văn học) đối với lĩnh vực nghiên cứu văn học nước ngoài và hoạt động nghề nghiệp liên quan đến văn học nước ngoài của người làm luận văn;

– Kết quả nghiên cứu trong luận văn phải là kết quả lao động của chính tác giả thu được chủ yếu trong thời gian học, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác. Nếu sử dụng kết quả, tài liệu của người khác (trích dẫn bảng, biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) thì phải được tác giả đồng ý và trích dẫn tường minh;

– Luận văn có dung lượng khoảng 70 trang A4, có thể nhiều hoặc ít hơn tuỳ đặc thù lĩnh vực nghiên cứu của luận văn nhưng không quá 120 trang, được chế bản theo mẫu quy định chung của Đại học Quốc gia Hà Nội. Bản thông tin luận văn có dung lượng khoảng 3-5 trang (300- 500 chữ) bằng tiếng Việt và tiếng Anh trình bày những nội dung cơ bản, nội dung mới và đóng góp quan trọng nhất của luận văn.

2. Về kĩ năng

2.1. Kĩ năng cứng

– Am hiểu lí thuyết và phương pháp nghiên cứu để phân tích, giải thích được các hiện tượng cụ thể trong quá khứ và trong hiện tại của văn học nước ngoài;

– Có khả năng nhận diện vấn đề, định vị đối tượng nghiên cứu, đồng thời, có cái nhìn khái quát, hệ thống về phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu từ đó tìm ra phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu phù hợp để giải quyết vấn đề;

– Có khả năng nghiên cứu, phổ biến, thuyết trình và giảng dạy, thực hành nghiên cứu văn học nước ngoài;

– Có khả năng áp dụng hiểu biết về văn học nước ngoài, kĩ năng nghiên cứu văn học vào nhữnglĩnh vực nghề nghiệp cụ thể như: giảng dạy văn học ở các cấp học; biên tập,xuất bản sách văn học; hoạt động trong các cơ quan quản lí văn hoá, báo chí, xuất bản;

– Góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển và đổi mới các hoạt động nghiên cứu liên quan đến văn học so sánh, giữa các nền văn học nước ngoài với văn học Việt Nam.

2.2. Kĩ năng mềm

2.2.1. Kĩ năng cá nhân: thể hiện khả năng chủ động phát hiện vấn đề, đề xuất đề tài nghiên cứu liên quan đến văn học nước ngoài; có khả năng vận dụng kiến thức về văn học nước ngoài và phương pháp nghiên cứu văn học, lí thuyết nghiên cứu văn học để thực hiện đề tài nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu dưới các hình thức khác nhau từ bài thuyết trình cho đến bài báo nghiên cứu khoa học.

2.2.2. Kĩ năng làm việc theo nhóm: có khả năng tham gia xây dựng hóm làm việc, vận hành, phát triển nhóm, lãnh đạo hóm và thay đổi nhóm để thích nghi với hoàn cảnh.

2.2.3. Kĩ năng giao tiếp: có khả năng xây dựng ý tưởng, lập luân, giao tiếp bằng văn bản, giao tiếp qua các phương tiện công nghệ, giao tiếp liên cá nhân trực tiếp, thuyết trình.

2.2.4. Kĩ năng sử dụng ngoại ngữ: Sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ tương đương chuẩn B1 khung tham chiếu Châu Âu (Đối với tiếng Anh: tương đương 4.5 IELTS hoặc 477 TOEFL).

3. Về năng lực

3.1. Những vị trí công tác người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp

– Nghiên cứu và giảng dạy văn học nước ngoài trong các cao đẳng, đại học, hay giảng dạy văn học trong các trường phổ thông;

– Chuyên viên, nghiên cứu viên tại các viện nghiên cứu liên quan đến văn học nước ngoài;

– Cán bộ, chuyên viên trong các cơ quan quản lí và hoạt động văn học, văn hoá, nghệ thuật;

– Biên tập viên trong các nhà xuất bản;

– Phóng viên, biên tập viên trong các cơ quan báo chí, truyền thông;

– Nhân viên dự án trong các dự án hoạt động trong lĩnh vực văn học, văn hoá, nghệ thuật có liên quan đến văn học Việt Nam.

3.2. Yêu cầu kết quả thực hiện công việc:Sau khi tốt nghiệp, thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài có khả năng trực tiếp tham gia các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy, tham gia các lĩnh vực nghề nghiệp liên quan đến văn học nước ngoài; hoặc có thể tiếp tục học tập ở bậc tiến sĩ chuyên ngành văn học nước ngoài.

4. Về phẩm chất đạo đức

4.1. Về phẩm chất đạo đức cá nhân

– Nhận thức và ứng xử theo các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, hiểu biết và tuân thủ hiến pháp, pháp luật, các quy định, quy chế hữu quan và các chuẩn mực đạo đức xã hội.

4.2. Về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp

– Có tinh thần khách quan khoa học, có đạo đức khoa học, trung thực trong khoa học. Độc lập, tự tin, có óc phê phán và tinh thần duy lí trong nhận thức, có cái nhìn khách quan, chấp nhận cái mới và tính đa dạng của các giá trị thẩm mĩ;

– Có trách nhiệm với công việc và đảm bảo uy tín trong công việc, dám chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình tạo ra.

4.3. Về phẩm chất đạo đức xã hội

– Nhận thức đúng vai trò của người lao động trí óc trong xã hội, có trách nhiệm trước các vấn đề xã hội, từ những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực văn học nghệ thuật đến các vấn đề của đời sống nhân sinh, có ý thức trong việc sử dụng kiến thức để đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.